This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2018

Tôi tin và cũng không tin vào thánh


Tôi tin vào quyền năng và đạo đức của thánh nhưng cũng không tin thánh có thể làm được mọi thứ. Nếu như thánh làm được mọi thứ thì sự đáng trách về trách nhiệm và tình cảm của thánh là vô cùng lớn.

Thánh chính là hệ thống chính trị dưới âm. Thánh chỉ kiểm soát được quy luật, không kiểm soát được tự do suy nghĩ cá nhân, không kiểm soát được mọi thứ. Thánh có thể tác động, chỉ bảo lên chúng sanh trong phạm vi nào đó, nhưng chắc chắn không thể tác động lên toàn thể chúng sanh.

Ngay cả phật cũng đã nói ý rằng, phật không trực tiếp cứu chúng sinh, mà chúng sinh phải tự cứu lấy mình bằng những giác ngộ đạo phật.

Ngồi đợi thánh cứu, ngồi đợi lộc thánh là vô lý. Thánh không thể gồng lên mà cứu giúp những người lính không ngộ đạo hoặc những người lính ỷ lại. Những người lính không chịu tuân theo những quy luật tiến bộ. Thánh mà lấy lộc người này để ban cho người khác chính là không công bằng. Thế nên đừng nên xin thánh lộc lá cờ bạc. Hãy cố gắng sửa đổi bản thân và xin thánh cứu lúc nguy cấp. Còn như vẫn còn phải sửa đổi để tự cứu mình mà không chịu sửa thì thánh đang dung dưỡng dậy hư cho quân lính.

Thánh nào cũng chịu sự chi phối bởi đạo lý. Bất cứ đạo nào không tuân thủ đạo lý thì sẽ bị đạo khác có đạo lý hơn thay thế. Chiến tranh giữa đạo phật, đạo hồi, đạo cơ đốc là có. Đạo mẫu thực ra là một đạo rất còn non kém nếu nói về tầm vóc thế giới.

Còn nhớ những vị thần như Dớt, nữ thần Hê ra, Héc Quyn, .. Đã từng là những vị thánh được tôn sùng, nhưng cũng lụi bại. Rất rất nhiều đạo trên thế giới cũng như vậy. Đạo mẫu cũng vậy, đều phải tuân theo sự tiến bộ và văn minh, nếu không đạo cũng sẽ bị lụi tàn trước các đạo lớn.

Là một người lính nhà thánh, phải tự lực tự cường tiến bộ vượt khó. Người quân nào cũng ỷ lại thì đạo đó khó tiến xa. Tự cứu lấy mình trong từng việc nhỏ, tự tĩnh tâm, và cầu xin hỗ trợ khi thực sự không còn cách giải quyết. Chứ đừng cầu xin theo cách cầu may, ỷ lại. Đừng có viêm gan nhưng vẫn không chịu cai rượu lại xin khỏi bệnh. Càng khó khăn càng phải tĩnh sửa đổi và cố gắng thay đổi, buồn phiền không giải quyết được vấn đề gì.
Khi được cho là có căn, đừng tỏ ra ghê gớm hơn người, lợi dụng chức quyền mà tác oai tác quái. Ngay cả những vị thánh như Bác Hồ còn khiêm nhường. Là người lính thường, lấy gì mà hống hách ra oai hơn cả Bác Hồ. Căn cành cao càng phải biết duy lý, biết nhẫn nhịn, biết lấy đại sự, biết chủ động cần kiệm, biết lo cho tương lai, biết vượt khó đều là tu. Ai gặp khó khăn tu được thì thành đạo. Còn như đổ lỗi hoàn cảnh thì không thể thành đạo. Khi sướng hỏi ai tu được, khi khổ cũng đổ tội hoàn cảnh nên không tu được. Vì vậy chắc chắn sẽ không tu được. 

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

Hệ thống các vị tiên thánh trong Đạo Mẫu

Đạo thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời và đặc biệt là rất thuần Việt , nói đến Đạo Mẫu người ta có thể liên tưởng ngay đến việc tôn vinh những vị nữ thần tối cao mà người ta tôn là Thánh Mẫu hay Quốc Mẫu.

Tuy nhiên, trong đạo thờ Mẫu người ta không chỉ thờ riêng các vị Mẫu mà còn tôn thờ cả một hệ thống các vị Thánh (mà người ta thường gọi là: Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn Linh) với một trật tự chặt chẽ mà trật tự này được thể hiện trong các giá hầu đồng người ta thỉnh các vị Thánh Mẫu, Chúa Bà, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu theo trật tự nhất định.

Chúng ta cùng tìm hiểu về Tam phủ công đồng Tứ phủ vạn linh là gì nhé.

I. TAM PHỦ:

– Tam: Là ba

– Phủ: Là nơi làm việc của các quan

– Tam phủ: Là nơi làm việc của các quan âm, chư vị thần linh của ba Miền: Thiên Phủ, địa phủ, thoải phủ

Thiên phủ ( Màu Xanh – Vua cha Ngoc Hoang): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản bầu trời.

Địa phủ (Màu Vàng – Vua cha Diêm vuong): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản vùng đất đai

Thủy Phủ ( Màu Trắng – Vua cha bat hai): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản miền sông nước.

Theo lịch sử phát triển của Tín ngưỡng Tam tứ phủ, thì khái niệm Tam phủ có trước, Tứ phủ có sau.

Vào Thời kỳ khởi nguyên của Tam phủ người ta cho rằng tam phủ gồm ba miền: Thiên, Địa, Thoải. Lúc đó Nhạc Phủ chưa có

II. TỨ PHỦ:

Là nơi làm việc của các quan âm, chư vị thần linh của bốn Miền: Thiên Phủ, địa phủ, thoải phủ, Nhạc phủ

Thiên phủ ( Màu Đỏ – Mẫu Cửu): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản bầu trời.

Địa phủ (Màu Vàng – Mẫu Liễu) : Bao gồm các chư vị thần linh cai quản vùng đất đai

Thủy Phủ ( Màu Trắng – Mẫu Thoải): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản miền sông nước.

Nhạc Phủ ( Màu Xanh – Mẫu Thượng ngàn): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản miền rừng, sơn lâm

Theo sắp sếp thứ tự ngày xưa là : Thiên, địa, thoải, nhạc ( vì nhạc xuất hiện sau)

Ngày nay thì trong các khoa cúng và bản chầu văn sắp xếp theo thứ tự cao nhất là tầng Trời, tiếp đến cao nguyên rừng núi, sau đó là vùng sông nước, cuối cùng vùng địa phủ.

1. Đệ nhất thượng thiên

2. Đệ nhị thượng ngàn

3. Đệ tam thoải phủ

4. Đệ tứ khâm sai ( Đệ tứ địa phủ)

Như vậy tứ phủ vạn linh là chỉ toàn bộ chư thánh của tín ngưỡng thờ mẫu mà đứng đầu là Thánh Mẫu

Như chúng ta biết các Chư linh của Tứ phủ được phân chia theo vị trí sau đây

1. Bảo hộ dân quốc thánh mẫu:

– Mẫu đệ nhất ( Thiên phủ) danh hiệu Thanh vân công chúa

– Mẫu đệ nhị ( Nhạc phủ) danh hiệu Lê Mại đại vương

– Mẫu đệ tam ( Thoải phủ) danh hiệu Xích lân công chúa

Mẫu đệ tứ ( Địa phủ) danh hiệu Liễu Hạnh Công chúa

Trong các đền, điện thờ tứ phủ, tam toà thánh mẫu được xếp theo thứ tự:

Mẫu đệ nhất: Mẫu Liễu

Mẫu đệ nhị: mẫu thượng ngàn

Mẫu đệ tam: mẫu thoải

2. Phụ vương đại thánh ( Phối thờ)

– Ngọc Hoàng thượng đế ( Thiên phủ)

– Bát hải long vương ( Thoải phủ)

– Tản viên Sơn thánh ( Nhạc phủ)

– Thập diện minh vương ( địa phủ)

3. Hội đồng chúa ( Phối thờ)

– Chúa Đệ Nhất Tây Thiên:

– Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Nguyệt Hồ):

– Chúa Đệ Tam Lâm Thao:

* Chúa Cà Phê (Địa Phủ) & (Nhạc Phủ)

* Chúa Long Giao (Nhạc Phủ)

* Chúa Ngũ Hành Ngũ Phương (Nhạc Phủ)

* Chúa Thác Bờ (Thoải Phủ)&(Nhạc Phủ)

* Chúa Mọi (Nhạc phủ)

4. Ngũ vị tôn quan

– Quan lớn đệ nhất thượng thiên: quyền cai Thiên phủ trên trời, là thần làm mưa làm gió, là quan trong cung điện Ngọc hoàng, mặc áo màu đỏ

– Quan Lớn đệ nhị Thượng ngàn: Quyền cai rừng núi Lâm cung, lên rừng xuống biển tâu về Bát hải long vương, ông là vị giám sát trước để đánh trận xông pha, ông mặc áo màu xanh

– Quan Lớn đệ tam thoải phủ: Là con vua Bát hải long vương, ông mặc áo bào màu trắng, cầm đôi bạch kiếm đi xông pha quỷ thế tà giới

– Quan lớn đệ Tứ Khâm Sai: Là quan Địa linh quyền cai đất bằng, ông có trách nhiệm đi khâm sai các vùng dân, giữ an lành nước Việt, ông mặc áo màu vàng

– Quan Lớn đệ Ngũ Tuần Tranh: Là quan lớn, mặc áo bào màu xanh biển, cầm thanh long đao to

– Đệ nhất vương quan. Danh hiệu Quan điều thất

– Đệ thập vương quan. Danh hiệu Quan Hoàng triệu

5. Tứ phủ chầu bà:

– Chầu Đệ Nhất ( hóa thân thánh mẫu Thượng Thiên ). Thiên phủ

– Chầu Đệ Nhị ( Nhạc phủ ): Danh hiệu Ngôi kiều công chúa

– Chầu Đệ Tam ( hóa thân Mẫu Thoải ) Thoải phủ: Danh hiệu Thủy Điện công chúa
Chầu Thác Bờ ( Thoải phủ, Nhạc phủ): có người hầu giá thứ 3, tức là chầu đệ tam, bà chúa Thác bờ.

– Chầu Đệ Tứ khâm sai Tứ phủ ( địa phủ): danh hiệu Chiêu dung công chúa. Đình Cốc thượng là nơi tôn thờ Chiêu dung công chúa Lý Ngọc Ba

– Chầu Ngũ thờ ở Suối Lân , Lạng Sơn ( Nhạc phủ) : Danh hiệu Suối Lân công chúa

– Chầu Lục ( Nhạc phủ) Danh hiệu Lục cung công chúa

– Chầu Bảy ( Nhạc phủ) Danh hiệu Tân la công chúa

– Chầu Bát thờ ở Tiên La Thái Bình ( Nhạc phủ ): Danh hiệu nữ tướng Bát nàn

– Chầu Cửu ( Cửu Huyền Thiên Nữ – Bỉm sơn – Thanh Hóa )

– Chầu Mười ở Mỏ Ba ( Đồng Mỏ – Chi Lăng ) Nhạc phủ: Danh hiệu nữ tướng Đồng mỏ Chi lăng

– Chầu bé ở Bắc Lệ ( Nhạc phủ) Danh hiệu Chầu bé Bắc lệ

– Chầu bà Bản đền: Danh hiệu thủ điện công chúa

6. Thập vị Thủy Tế:

– Ông Hoàng Cả ( Thiên phủ): Danh hiệu ông Hoàng quận, Lê Lợi

– Ông Hoàng Đôi ( Người Mán ): Nhạc phủ

– Ông Hoàng Bơ thoải cung

– Ông Hoàng Tư ( Thoải phủ) Danh hiệu ông Hoàng khâm sai

– Ông Hoàng Năm

– Ông Hoàng Lục Thanh Hà

– Ông Hoàng Bảy ( Nhạc phủ) danh hiệu ông Hoàng Bảo Hà

– Ông Hoàng Bát quốc ( Thoải phủ ) danh hiệu Ông Đệ bát đồng bằng sông diêm

– Ông Chín Cờn ( Thiên phủ) danh hiệu ông Cờn môn

– Ông Hoàng Mười ( địa phủ) danh hiệu ông Nghệ an

7. Tứ phủ thánh cô:

– Cô cả Thượng Thiên ( thiên phủ)

– Cô Đôi Thượng Ngàn ( Nhạc phủ)

– Cô đôi cam đường ( nhạc phủ)

– Cô Bơ Hàn Sơn ( Thoải phủ) tức là cô bơ bông, cô bơ Tây hồ

– Cô Tư Ỷ La ( địa phủ)

– Cô Năm Suối Lân ( nhạc phủ)

– Cô Sáu Lục cung ( Nhạc phủ)

– Cô Bảy Kim Giao ( nhạc phủ)

– Cô Tám Đồi Chè ( nhạc phủ)

– Cô Chín thượng ngàn

– Cô Chín Giếng ( cô 9 Sòng )

– Cô Mười Đông mỏ ( nhạc phủ)

– Cô bé Thượng ngàn

Cô bé Đông Cuông ( Nhạc phủ)

Cô Bé Suối Ngang ( Hữu lũng ). Nhạc phủ

Cô bé Đèo Kẻng ( Thất Khê )

Cô Bé Tân An ( Lào cai )

Cô bé Cây xanh ( Bắc Giang )

Cô bé Nguyệt hồ ( Bắc Giang )

Cô bé Minh Lương( Tuyên Quang )

Cô bé Cây xanh ( Tuyên Quang )

cô bé Thác Bờ ( hòa Bình ) Thoải phủ

Cô bé Thoải phủ ( Thoải phủ)

cô bé Núi Dùm

Cô bé Mỏ Than

Cô bé Bản Đền

Cô bé Den ( Cô bé Sóc ): Nhạc phủ

8. Thập vị Triều cậu:

Cậu Hoàng Cả Phủ Giầy ( Thiên phủ)

Cậu Hoàng Cả Sòng Sơn

Cậu Hoàng Đôi ( Nhạc phủ)

Cậu Hoàng Bơ ( Thoải phủ)

Cậu Hoàng Tư

Cậu Hoàng Năm

Cậu Hoàng Bé Đồi Ngang ( Cậu Hoàng Quận ) Nhạc phủ

Xem thêm: Cậu bé Đồi Ngang và phủ Đồi Ngang.

Ngoài ra ở mỗi bản đền lại có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền , trong đó thường hay ngự đồng như : Cậu Bé Phủ Bóng , Cậu Bé Đông Cuông ….

9. NGŨ HỔ ( ÔNG LỐT)

– Ngũ hổ:

Hắc Hổ trấn giữ phương bắc

Bạch Hổ trấn giữ phương tây

Hoàng Hổ trấn giữ trung tâm

Thanh Hổ trấn giữ phương đông

Xích Hổ trấn giữ phương nam

– Ông Lốt (rắn)

Thanh Xà Đại tướng quân

Bạch xà đại tướng quân

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Cách chọn giờ sinh cho trẻ

1. Tránh giờ Kim xà thiết tỏa và Bàng giờ

Khó sống qua 12, 13 tuổi, triển vọng rất bấp bênh. Cho dù có sống cũng hết sức khó nuôi vì đau yếu luôn luôn. Nếu bản mệnh đứa trẻ bị cha (hay mẹ) khắc, thì càng khó sống.

Cách tính:
Trước hết phải biết năm , tháng , ngày , giờ sanh nào , rồi tự cung Tuất trên bàn tay ( Tay Phải ) mà bắt đầu tính năm Tý , tính xuôi cho đến năm sanh thuộc về cung nào , rồi tự cung ấy mà khởi tháng 1 ( giêng ) tính ngược lại cho đến tháng sanh thuộc về cung nào , rồi lại từ cung ấy khởi ngày mồng một ( 1 ) tính xuôi cho đến ngày sanh thuộc về cung nào , rồi lại từ cung ấy mà khởi giờ Tý tính ngược cho đến giờ sanh , rồi mới xem giờ sanh ấy ở cung nào ?


- Con Trai mà phạm phải cung : THÌN - TUẤT là gặp giờ Kim xà
  Con trai phạm phải cung Sửu - Mùi là gặp phải bàng giờ

- Con Gái mà phạm phải cung : SỬU - MÙI là gặp giờ kim xà
  Con gái phạm phải cung Thìn - Tuất là gặp phải Bàng giờ

Kim xà thường nặng hơn Bàng Giờ.


Ví dụ : Năm Mão tháng 9 ngày 3 , giờ Ngọ , sanh con gái , tính trên cung Tuất mà đếm xuôi : tý , sửu , dần , mão , vậy năm Mão ở cung Sửu , khởi tháng 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 , vậy thì tháng 9 ở cung Tỵ , rồi ở cung Tỵ khởi ngày mồng một mà tính xuôi mồng một , 2 , 3 , vậy thì mồng ba ( 3 ) ở cung Mùi , rồi ở cung Mùi khởi giờ Tý tính ngược Tý , Sửu , Dần , mão , Thìn , Tỵ , Ngọ , vậy giờ Ngọ ở cung Sửu . Thế là đúng phạm phải giờ Kim Xà Thiết Tỏa .

Hóa giải: - Bán khoán
- Dùng phép Tam Y hóa giải


2. Tránh giờ Quan Sát

Khó tránh được tử vong, có thể chết chỉ vài giờ sau khi sinh.Chức năng gan không ổn định dễ mắc bệnh viêm gan. Nếu sống được thì hay đau yếu, hoặc bị tai nạn bất ngờ đe dọa sinh mệnh. Cần xem xét mệnh của cha (mẹ) có khắc con không. Khi khôn lớn tính khí ương ngạnh bướng bỉnh, tinh quái ngỗ ngược nếu giáo dục không tốt dễ hung hăng côn đồ, mắc vòng tố tụng.

Cách tính:
Tháng Giêng: Sinh giờ Tỵ
Tháng Hai: Sinh giờ Thìn
Tháng Ba: Sinh giờ Mão
Tháng Tư: Sinh giờ Dần
Tháng Năm: Sinh giờ Sửu
Tháng Sáu: Sinh giờ Tý
Tháng Bảy: Sinh giờ Hợi
Tháng Tám: Sinh giờ Tuất
Tháng Chín: Sinh giờ Dậu
Tháng Mười: Sinh giờ Thân
Tháng Mười Một: Sinh giờ Mùi
Tháng Chạp: Sinh giờ Ngọ

Hóa giải: Bán khoán


3. GIỜ DIÊM VƯƠNG

Thường có nhiều chứng dị kỳ, như hay giật mình, hốt hoảng, trợn mắt, lè lưỡi, thần kinh bất ổn, hầu như bị một ám ảnh nào lớn lao trong tâm trí mà đứa trẻ cơ hồ như ý thức được.

Cách tính:
Mùa Xuân: Sinh giờ Sửu, Mùi.
Mùa Hạ: Sinh giờ Thìn, Tuất.
Mùa Thu: Sinh giờ Tý, Ngọ.
Mùa Đông: Sinh giờ Mão, Dậu.



4. GIỜ DẠ ĐỀ

Thường bị trì trệ về khí huyết gây mệt mỏi, đêm trẻ hay dãy đạp kêu khóc.

Cách tính:
Mùa Xuân: Sinh giờ Ngọ
Mùa Hạ: Sinh giờ Dậu
Mùa Thu: Sinh giờ Tý
Mùa Đông: Sinh giờ Mão.

Cách hóa giải: Lấy xác ve nam thì 7 cái, nữ 9 cái, bỏ miệng và chân đem đi sao giòn rồi sắc uống.


5. GIỜ TƯỚNG QUÂN

Phạm giờ này trẻ em thường bị bệnh, khi nhỏ hay mắc bệnh sài đen, thường hay khóc dài không nín, khi lớn mặt mũi hiền lành nhưng tính khí bướng nghịch nhưng giờ này nhẹ ít đáng lo ngại.

Cách tính:
Mùa Xuân: Sinh giờ Thìn, Tuất, Dậu.
Mùa Hạ: Sinh giờ Tí, Mão, Mùi.
Mùa Thu: Sinh giờ Dần, Ngọ, Sửu.
Mùa Đông: Sinh giờ Thân, Tị, Hợi.


6. Ngoài ra với những người am hiểu có thể xem thêm Tứ Trụ hoặc Tử Vi. Nhưng dù có chọn giờ nào đi nữa thì vẫn phải tuân thủ theo sự an toàn trong sinh nở, lấy ý kiến bác sĩ làm đầu.

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Chú đại bi

Chú đại bi nằm trong Kinh Đại bi tâm đà la ni. Phật nói Chú đại bi là thần chú quảng đại viên mãn, thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ. Trí chú này thì diệt vô lượng tội, được vô lượng phước và chết thì sinh Cực Lạc. Thần chú này do Quan Thế Âm bồ tát nói. Muốn trì chú này thì phải phát Bồ đề tâm, kính giữ trai giới, tâm luôn bình đẳng với mọi loài và phải trì tụng liên tục.

Chú đại bi chia theo 84 câu dễ học:

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni
1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da
2. Nam Mô A Rị Da
3. Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da
4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da
5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da
6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da
7. Án
8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ
9. Số Đát Na Đát Tỏa
10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da
11. Bà Lô Yết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà
12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì
13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế
14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng
15. A Thệ Dựng
16. Tát Bà Tát Đa (Na Ma Bà Tát Đa) Na Ma Bà Già
17. Ma Phạt Đạt Đậu
18. Đát Điệt Tha
19. Án A Bà Lô Hê
20. Lô Ca Đế
21. Ca Ra Đế
22. Di Hê Rị
23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa
24. Tát Bà Tát Bà
25. Ma Ra Ma Ra
26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng
27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông
28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế
29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế
30. Đà Ra Đà Ra
31. Địa Rị Ni
32. Thất Phật Ra Da
33. Giá Ra Giá Ra
34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra
35. Mục Đế Lệ
36. Y Hê Y Hê
37. Thất Na Thất Na
38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi
39. Phạt Sa Phạt Sâm
40. Phật Ra Xá Da
41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra
42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị
43. Ta Ra Ta Ra
44. Tất Rị Tất Rị
45. Tô Rô Tô Rô
46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ
47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ
48. Di Đế Rị Dạ
49. Na Ra Cẩn Trì
50. Địa Rị Sắc Ni Na
51. Ba Dạ Ma Na
52. Ta Bà Ha
53. Tất Đà Dạ
54. Ta Bà Ha
55. Ma Ha Tất Đà Dạ
56. Ta Bà Ha
57. Tất Đà Du Nghệ
58. Thất Bàn Ra Dạ
59. Ta Bà Ha
60. Na Ra Cẩn Trì
61. Ta Bà Ha
62. Ma Ra Na Ra
63. Ta Bà Ha
64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da
65. Ta Bà Ha
66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ
67. Ta Bà Ha
68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ
69. Ta Bà Ha
70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ
71. Ta Bà Ha
72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Dạ
73. Ta Bà Ha
74. Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ
75. Ta Bà Ha
76. Nam Mô Hắc Ra Đát na Đa Ra Dạ Da
77. Nam Mô A Rị Da
78. Bà Lô Yết Đế
79. Thước Bàn Ra Dạ
80. Ta Bà Ha
81. Án Tất Điện Đô
82. Mạn Đà Ra
83. Bạt Đà Dạ
84. Ta Bà Ha
(Lặp lại 3 lần từ câu Chú 81 đến 84 khi quý vị trì biến cuối cùng)